Phân định vị trí của trùng quái trên Thiên Bàn

0
947

Bài viết mà Lê Hiếu đã gửi đến các bạn ở phần trước nó tập trung về vấn đề Hình thức lá số tử vi“.

Ở phần này, chúng tôi sẽ gửi đến các bạn những thông tin về Cách Phân định vị trí của trùng quái trên Thiên Bàn. Mong rằng đây sẽ là một thông tin vô cùng bổ ích đối với bạn đọc. Và bây giờ thì cùng tôi tìm hiểu bài viết phía dưới nhé!.

Phân định vị trí của trùng quái trên Thiên Bàn: Sử dụng trùng quái của Tiên Thiên Bát Quái

Trong 64 trùng quái thì có 12 trùng quái chính biểu thị cho qui luật Doanh Hư Tiêu Trưởng, Thành Thịnh Suy Hủy, Dương Thăng Âm Giáng, Tiêu Trưởng, Thuận Nghịch, Tiến Thoái trong sự chuyển hóa của Âm Dương. Mười Hai quẻ này được đặt trong Thiên Bàn, hòa họp với 12 năm, 12 tháng, 12 giờ, 12 Địa Chi, và bốn Phương tám Hướng, Tứ Thời (Xuân Hạ Thu Đông), Thập Nhị Tiết:

Trùng quái thiên đàn

Quẻ Phục (Địa Lôi Phục) ở Tí, một vạch Dương ở dưới, là thời kỳ Dương bắt đầu sinh (Nhất Dương sinh. Cực Am thì Dương sinh). Phục có nghĩa là trở lại, là Dương đã bắt đầu trở lại. Đặt ở giờ Tí, tháng 11, phương Bắc rất lạnh, tiết Đông Chí giữa Mùa Đông.

Quẻ Lâm (Địa Trạch Lâm) ở Sửu, hai vạch Dương ở dưới, là thời kỳ Dương bắt đầu thịnh, Âm bắt đầu suy. Lâm có nghĩa là đến, đã tới, ra mặt, Dương đã đủ góp mặt rồi, đó là Dương tiến Âm thoái, Dương thịnh Âm suy, Dương trưởng Âm giáng. Đặt ở giờ Sửu lúc mặt trời bắt đầu đang lên (Dương tiến), tháng 12, phương Đông Bắc (thiên Bắc), tiết Tiểu Đại Hàn, cuối mùa Đông đã bớt lạnh (Âm thoái)

Quẻ Thái (Địa Thiên Thái) ở Dần, ba vạch Dương ở dưới và ba vạch Âm ở trên, là thời kỳ Âm Dương quân bình. Thái có nghĩa là hanh thông. Dương thì nhẹ lại ở dưới nên bốc lên trên, Am thì nặng ở trên hạ xuống dưới nên Âm Dương tiếp xúc, Âm Dương quân bình. Đặt ở giờ Dần lúc mặt trời đang lên, tháng 1, phương Đông Bắc (thiên Đông), tiết Lập Xuân, đầu mùa Xuân tiết trời bắt đầu ấm áp, cây cỏ tốt tươi

Quẻ Đại Tráng (Lôi Thiên Đại Tráng) ở Mão, bốn vạch Dương ở dưới, hai gạch Âm ở trên, là thời kỳ Dương thịnh, Âm suy. Đại Tráng là lớn mạnh, rất lớn, Dương đã lớn mạnh hơn Âm. Đặt ở giờ Mão, phương Đông, tháng 2, ứng với tiết Xuân Phân, giữa mùa Xuân, tiết trời ấm áp trong sáng

Quẻ Quải (Trạch Thiên Quải) ở Thìn, năm vạch Dương ở dưới, một gạch Âm ở trên, là thời kỳ Dương thịnh, Ầm cực suy, sắp biến. Quải là quả quyết, dứt bỏ, Dương đã quyêt dứt bỏ một Am năm một mình ở trên. Đặt ở giờ Thìn, tháng 3, phương Đông Nam (thiên Đông), tiết Thanh Minh, cuối mùa Xuân, tiết giao mùa, săp sang mùa Hạ, tiết trời băt đâu ừở nên nóng nực, khí hậu bước sang mùa nắng nóng

Quẻ Càn (Càn Vi Thiên, Bát Thuần Càn) ở Tỵ, sáu vạch Dương, Toàn Dương, là thời kỳ Dương cực thịnh, Âm đã biến mất Càn là T rời, tính cương kiện. Khí Dương cực thịnh. Đặt ở giờ Tỵ, tháng 4, phương Đông Nam (thiên Nam), tiết lập Hạ, đâu Mùa Hạ, tiết trời băt đâu sang Hạ, nóng bức

Quẻ Cấu (Thiên Phong cấu) ở Ngọ, một vạch Âm ở dưới, là thời kỳ Dương đã cực nên Âm bắt đầu sinh ở dưới. (Nhất Âm Sinh. Dương cực thì Âm sinh), năm gạch Dương ở trên, cấu là gặp gỡ. Âm đã bắt đầu tới gặp Dương. Đặt ở giờ Ngọ, tháng 5, phương Nam, ứng với tiết Hạ Chí

Quẻ Độn (Thiên Sơn Độn) ở Mùi, hai vạch Âm ở dưới, bốn gạch Dương ở trên, là thời kỳ Âm bắt đầu thịnh, Dương bắt đầu suy, Âm trưởng, Dương giáng.

Độn là lẩn trốn, trốn tránh, Dương đã lẩn trốn, bớt đi rồi. Đặt ở giờ Mùi, tháng 6, phương Tây Nam (thiên Nam), tiết Tiểu Đại Thử, cuối Mùa Hạ

Quẻ Bỉ (Thiên Địa Bỉ) ở Thân, 3 vạch Âm ở dưới và 3 vạch Dương ở trên, tuy Âm Dương quân bình nhưng Dương ở ừên cứ bốc lên, Âm ở dưới lại hạ xuống nên Âm Dương không gặp nhau nên bế tắc. Bỉ là bế tắc. Đặt ở giờ Thân, tháng 7, phương Tây Nam (thiên Tây) tiết Lập Thu, đầu Mùa Thu, tiết trời trở nên mát mẻ với sự úa vàng của cây cỏ

Quẻ Quán (Phong Địa Quán) ở Dậu, bốn vạch Âm ở dưới, hai gạch Dương ở trên, là thời kỳ Am trưởng Dương tiêu, khí Âm thịnh lấn át khí Dương. Quán là xem xét, Dương phải xem xét hoàn cảnh không hay (đang suy giảm) của mình mà lo liệu. Đặt ở giờ Dậu, tháng 8, phương Tây, ứng với tiết Thu phân, tiết trời khô mát, sáng sủa

Quẻ Bác (Sơn Địa Bác) ở Tuất, năm vạch Âm ở dưới, một vạch Dương cheo leo ở trên, là thời kỳ A thịnh, Dương sắp suy biến. Bác là rơi rụng, Dương nằm ở thế cheo leo (một vạch Dương) sắp sửa rơi rụng hết rồi. Đặt ở giờ Tuất, tháng 9, phương Tây Bắc (thiên Tây), tiết Hàn Lộ Sương Giáng, cuối Mùa Thu, giao mùa, trời bắt đầu trở lạnh, sắp bước sang mùa Đông

Quẻ Khôn (Khôn Vi Địa, Bát Thuần Khôn) ở Hợi, sáu vạch Âm , toàn Âm , Âm khí cực độ, Dương khí đã biến mất. Khôn là đất, tính nhu thuận. Đặt vào giờ Hợi, tháng 10, phương Tây Bắc (thiên Bắc), tiết Lập Đông, đầu mùa Đông, tiết trời trở sang lạnh giá.

Từ Phục đến Cài là sáu quẻ với quá trình Dương bắt đầu sinh đến trưởng, Âm bắt đầu suy đến tiêu dần. Từ cấu đen Khôn là sáu quẻ với quá trình Âm bẳt đau sinh đến trưởng, Dương bắt đầu suy đến tiêu dần

Trên Thiên Bàn, các Quẻ đối nhau qua trục Âm Dương thì tính chất cũng đối nhau như Càn và Khôn, Phục và cấu, Thái và Bỉ. Tốt nhất là quẻ Thái vì Âm Dương quân bình và vào lúc sớm mai. xấu nhất là quẻ Bác vì Dương bị rơi rụng và vào lúc đêm tối. Từ quẻ Phục đến quẻ Càn thì Dương trưởng Âm tiêu Từ Quẻ Cấu đến Quẻ Khôn thì Ẩm trưởng Dương tiêu. Âm Dương tiêu trưởng, tiến thoái nhưng luôn luôn trở về thế quân bính tại Quẻ Thái và Bỉ. Hai quẻ này nằm trên trục Dần Thần là trục đẹp nhất, là đường đi của Mộc Tinh, tức Thái Tuế .

Trên đây là những cách để Phân định vị trí của trùng quái trên Thiên Bàn. Mong rằng với những thông tin hữu ích trên sẽ giúp bạn đọc có thêm phần nào kiến thức về tử vi lý số.

(Các bạn đang theo dõi bài viết trong loạt Series bài viết về Hướng dẫn xem tử vi lý số Tại chuyên mục Xây Dựng dành cho các bạn mới tìm hiểu của Lê Hiếu)

Để trở về trang chủ mời quý khách Click Tại Đây)